Lịch sử Công an nhân dân

Hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lực lượng an Công an nhân dân không ngừng trưởng thành về mọi mặt, đánh thắng các thế lực tình báo gián điệp, phản động và các loại tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1. Các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân Việt Nam:

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố các công cụ bạo lực của cách mạng để trấn áp tội phạm, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

- Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), “Đội Tự vệ đỏ” được thành lập để hỗ trợ và bảo vệ quần chúng nổi dậy phá nhà giam, đốt huyện đường, vây đồn lính, bắt giữ bọn hào lý, làm tan rã từng mảng chính quyền tay sai của đế quốc ở cơ sở; bảo vệ cán bộ, bảo vệ các phiên tòa của Xô Viết - Công Nông xét xử bọn phản cách mạng; giữ gìn an ninh trật tự ở những nơi có chính quyền Xô Viết.

Cuối năm 1931 Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp khốc liệt nhưng đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về công tác xây dựng và duy trì, phát triển các “Đội tự vệ”, tiến hành cách mạng phải gắn liền với bảo vệ thành quả cách mạng, về giành và giữ chính quyền.

Tháng 3/1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất thông qua Nghị quyết quan trọng về “Đội Tự vệ”. Khi công cuộc vận động Mặt trận Dân chủ Đông Dương phát triển thành cao trào cách mạng rộng lớn, Đảng chỉ thị: “Mỗi ấp phải tổ chức ra Đội tự vệ để ngăn cản những kẻ phá rối cuộc đấu tranh và đối phó với các lực lượng phản động”.

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới 2 bùng nổ. Một năm sau, Nhật xâm lược Đông Dương, dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng. Phong trào cách mạng chịu sự đàn áp, khủng bố ác liệt. Đảng ta rút vào hoạt động bí mật tiếp tục lãnh đạo phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật.

- Đầu năm 1940, Trung ương Đảng chủ trương thành lập “Ban Công tác đội” làm nhiệm vụ bảo vệ An toàn khu (ATK), bảo vệ cán bộ cao cấp của Đảng, giải thoát cho cán bộ khi bị địch bắt. “Ban Công tác đội” được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, được trang bị vũ khí và huấn luyện về kỹ thuật chiến đấu.

- Ngày 15/5/1945, Xứ ủy Bắc kỳ thành lập “Đội danh dự trừ gian” do Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ diệt trừ bọn Việt gian đầu sỏ và vũ trang tuyên truyền, chiến đấu khi cần thiết. Ngày 04/6/1945, Tổng bộ Việt Minh tuyên bố thành lập khu giải phóng (Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái); đồng thời, công bố 10 chính sách lớn của Việt Minh. Ngay sau đó, các tổ chức “Đội trinh sát”, “Đội hộ lương diệt ác” lần lượt ra đời cùng với “Đội tự vệ đỏ”, “Ban công tác đội” và “Đội danh dự trừ gian” làm nhiệm vụ thủ tiêu lực lượng của phát xít Nhật, trừ khử bọn Việt gian, trừng trị bọn lưu manh, bảo vệ chính quyền cách mạng, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đây là các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân Việt Nam.

2. Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945):

Ngày 19/8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội. Cùng với việc đập tan các cơ quan đàn áp của địch và thiết lập chính quyền cách mạng, ở các tỉnh Bắc Bộ đã lập Sở Liêm phóng, Trung Bộ lập Sở Trinh sát, Nam bộ lập Quốc gia tự vệ cuộc. Tuy tên gọi ở ba miền khác nhau, nhưng các tổ chức đầu tiên của Công an nhân dân đều có chung nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng và tải sản của nhân dân. Từ đó đến nay, ngày 19/8/1945 được xác định là Ngày truyền thống Công an nhân dân (CAND) Việt Nam. Ngày 12/12/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 30/2005/L-CTN công bố Luật CAND, trong đó quy định: “Ngày 19 tháng 8 hằng năm là Ngày truyền thống của CAND và là Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” (Điều 11, Chương I, Luật CAND).

3. Công an nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954).

Chính quyền cách mạng non trẻ vừa được thành lập đã phải đương đầu với những thử thách cực kỳ nghiêm trọng, vận mệnh của dân tộc như “Ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Công an đã làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống phản cách mạng. Đặc biệt, ngày 12/7/1946, Nha Công an Trung ương đã khám phá vụ án phản cách mạng ở Số 7, Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), Hà Nội; phối hợp với các lực lượng vũ trang nhân dân đồng loạt tấn công, bóc gỡ 40 trụ sở Quốc dân Đảng, bắt trên 100 tên phản động, đập tan âm mưu đảo chính, lật đổ chính quyền cách mạng của Thực dân Pháp và bọn phản động.

Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng CAND đã cùng với quân và dân cả nước nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, lực lượng Công an xung phong Hà Nội và Công an các địa phương đã tham gia tiến công, tiêu diệt, vây hãm địch, bảo vệ an toàn các cơ quan chính quyền, đoàn thể, bảo vệ vận chuyển tài liệu, kho tàng, tài sản quốc dân và tản cư nhân dân ra khỏi vùng có chiến sự.

Trong vùng địch tạm chiếm, CAND đã xây dựng cơ sở nắm tình hình, tham gia diệt ác, phá tề, trừ gian, trấn áp bọn mật thám, phản động nguy hiểm, tổ chức nhiều trận đánh ngay trong lòng địch. Tổ Điệp báo A13 của Ty Điệp báo, Nha Công an Trung ương đã đưa người vào hàng ngũ địch, nắm được nhiều tin tức có ý nghĩa chiến lược phục vụ công tác đánh địch. Chiến công vang dội đó đánh dấu bước trưởng thành của CAND và sự thất bại thảm hại của các cơ quan tình báo, phản gián Pháp. Ngày 27/9/1950, tại vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hóa, Tổ Điệp báo A13 đã sử dụng một khối lượng lớn thuốc nổ đánh đắm Thông báo hạm Amiôđanhvin (Thông báo hạm lớn nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ) diệt hơn 200 sỹ quan, thủy thủ và binh lính Pháp.

Trong vùng tự do và hậu phương căn cứ cách mạng, CAND đã bố trí lại lực lượng trinh sát, bảo vệ vũ trang và tổ chức Công an xã; đẩy mạnh phong trào “Ba không” ở Bắc Bộ, “Ngũ gia liên bảo” ở Nam Bộ, góp phần đấu tranh chống hoạt động do thám, gián điệp và bọn phản động tay sai; phối hợp với các lực lượng vũ trang bẻ gãy nhiều cuộc càn quét của địch, bảo vệ hậu phương và khu căn cứ kháng chiến. Ở các tỉnh Nam Bộ, lực lượng Quốc gia tự vệ cuộc phối hợp với các lực lượng vũ trang, dũng cảm chiến đấu cản bước tiến của quân Pháp. Ngày 23/9/1945, Quốc gia tự vệ cuộc Cần Thơ và Sóc Trăng đã bảo vệ chuyến tàu chở các chiến sĩ cách mạng từ Côn Đảo trở về lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, trong đó có các đồng chí: Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng. Ngày 12/11/1945, Quốc gia tự vệ cuộc Cần Thơ bí mật tập kích vào sở chỉ huy của quân Pháp tại thị trấn Cái răng, tiêu diệt 20 tên. Tháng 12/1945, lực lượng trinh sát Khánh Hòa đột nhập vào sân bay Nha Trang đốt Cháy và phá hỏng 3 máy bay, tiêu hủy 5.000 lít xăng của địch.

- Đóng góp của lực lượng công an trong các chiến dịch lớn:Trên khắp các chiến trường, nhất là trong các chiến dịch lớn, như: chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947. Chiến dịch Biên Giới năm 1950, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, lực lượng Công an đã phối hợp với lực lượng Quân báo tổ chức tốt công tác nắm tình hình, bảo vệ bí mật quân sự, bảo vệ an toàn giao thông liên lạc và các cuộc hành quân, trú quân của bộ đội, bảo vệ an toàn lãnh tụ và các cơ quan đầu não chỉ đạo kháng chiến; phát động phong trào “Bảo mật, phòng gian”; phong trào “Ba không” trong nhân dân; tổ chức phá tề, trừ gian, bao vây kinh tế địch; bắt gọn hầu hết các toán gián điệp ở Thái Nguyên để thu thập tin tức, tình hình của địch, phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

- Cùng với quá trình chiến đấu, công tác xây dựng lực lượng CAND luôn được Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển lớn mạnh không ngừng:

- Ngày 21/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23-SL thành lập Việt Nam Công an vụ, gồm: Nha Công an Trung ương, ở 3 miền lập Sở Công an, ở các tỉnh lập Ty Công an. Ngày 13/3/1947, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 36-NĐ “Uỷ quyền cho Ủy ban Kháng chiến Hành chính khu thiết lập quận Công an trong phạm vi các tỉnh”.

- Ngày 16/5/1947, Hội nghị Công an toàn quốc làn thứ nhất quyết định bỏ sở Công an Bắc Bộ và Sở công an Trung Bộ, lập Công an các Khu.

- Ngày 11/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, trong thư Người đã dạy cán bộ, chiến sĩ Công an phải rèn luyện Tư cách người Công an Cách mệnh, là: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

- Ngày 10/10/1950, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 438/NV về việc thành lập Ban Công an xã.

- Ngày 12/5/1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 05-CT/TW, quy định nhiệm vụ và tổ chức Nha Công an Việt Nam (trực thuộc Bộ Nội vụ).

- Ngày 03/01/1952, Bộ nội vụ ra Nghị định số 09-NĐ về việc thành lập Công an huyện. Ngày 16/02/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an.

- Tại kỳ họp từ ngày 27/8 đến 29/8/1953, Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Đây là sự kiện đánh dấu bước trưởng thành, lớn mạnh của CAND Việt Nam.

Trải qua 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh, lực lượng Công an luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, mưu trí, dũng cảm chiến đấu, lập nhiều chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt, đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động đảo chính, lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân của các thế lực tay sai phản động; bảo vệ tuyệt đối an toàn khu căn cứ địa cách mạng và các cơ quan đầu não của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; đấu tranh bài trừ lưu manh, trộm cướp, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống của nhân dân. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Công an nêu cao khí phách kiên cường, dũng cảm, lập công xuất sắc, tiêu biểu như các đồng chí: Bùi Thị Cúc (Công an Hưng Yên), Võ Thị Sáu (Công an huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Nguyễn Thị Lợi (Điệp báo Công an Hà Nội), Cao Kỳ Vân (Công an Bắc Giang), Trần Thành Ngọ (Công an Hải Phòng), Phan Khắc Trình, Trần Bình (Công an Hà Nội), Bửu Đóa (Công an Khánh Hòa), Nguyễn Xuân Thưởng (Công an Thừa Thiên - Huế)…

4. Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975)

* Miền Bắc: Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ráo riết tuyển chọn, huấn luyện, sử dụng bọn tình báo, gián điệp cài cắm vào những địa bàn quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự và vùng mới giải phóng; chúng tung hàng trăm toán gián điệp, biệt kích móc nối với tàn quân phỉ và bọn phản động trong nước hòng gây chia rẽ, bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng; sử dụng bọn tình báo, gián điệp, đặc vụ tiến hành các hoạt động chống phá công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc.

- Công tác đấu tranh chống gián điệp và các loại tội phạm khác:Trước tình hình đó, lực lượng Công an đã nhanh chóng chuyển hướng về tổ chức và hành động, tiến hành đấu tranh dập tắt các vụ nhen nhóm phản động và hoạt động gây bạo loạn của bọn phản cách mạng (từ tháng 11/1959 đến tháng 12/1959), lực lượng CAND đã phối hợp với Quân đội nhân dân mở chiến dịch đập tan âm mưu gây bạo loạn, cướp chính quyền tại tỉnh Hà Giang, làm tan rã lực lượng phản động gồm 1.112 tên phỉ, tiêu diệt, bắt sống 152 tên, gọi hàng 139 tên, thu 335 súng các loại). Đấu tranh bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài lại của Pháp, bắt gọn hầu hết các toán gián điệp, biệt kích của Mỹ và bè lũ tay sai tung ra phá hoại miền Bắc (từ năm 1961 đến năm 1970, lực lượng Công an đấu tranh triệt phá 78 toán gián điệp, biệt kích, bắt giữ 463 tên, thu nhiều tấn vũ khí, chất nổ, phương tiện hoạt động của chúng). Bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ sở kinh tế, cơ quan, xí nghiệp, các công trình quốc phòng, an ninh, các công trình văn hóa -xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân. Tổ chức cho nhân dân đi sơ tán khỏi vùng có chiến sự ác liệt. Đấu tranh đàn áp, bắt giữ, xử lý hàng trăm tên tội phạm nguy hiểm. Kịp thời dập tắt các vụ cháy lớn, làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra, góp phần giữ vững an ninh trật tự, bảo vệ miền Bắc XHCN.

- Công tác chi viện cho chiến trường miền Nam:Với tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, lực lượng CAND đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, bảo vệ an toàn các kế hoạch, địa điểm chuyển quân, chuyển hàng, kho tàng, bến bãi và các cuộc hành quân của bộ đội ta vào chiến trường miền Nam. Hình ảnh các cán bộ, chiến sĩ Công an ngày đêm kiên trì bám đất, bám đường, bắn trả máy bay địch, hướng dẫn, phân luồng xe cộ, ngụy trang, bảo vệ vật tư, phương tiện vận tải chi viện cho tiền tuyến; các chiến sĩ Phòng cháy và chữa cháy, Cảnh sát khu vực, Cảnh sát giao thông, Công an nhân dân vũ trang… quên mình trong lửa đạn để cứu người, cứu tài sản là những tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của CAND Việt Nam.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, lực lượng Công an miền Bắc đã tuyển chọn, huấn luyện, đưa hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Công an cùng hàng trăm tấn vũ khí, tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc chi viện cho An ninh miền Nam; sát cánh cùng với lực lượng An ninh miền Nam tiến hành công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và khu căn cứ cách mạng, tổ chức nhiều trận đánh tiêu diệt địch ngay trong sào huyệt của chúng, trấn áp bọn phản động, trừng trị bọn ác ôn; phá tan nhiều kế hoạc tình báo của Mỹ Ngụy, tiêu biểu như: Năm 1973, lực lượng Công an đập tan kế hoạch ‘Hải Yến 1”, “Hải Yến 2” của CIA và Đặc ủy Trung ương tình báo Ngụy, bắt toàn bộ các toán gián điệp chuẩn bị tung ra miền Bắc; bắt và vô hiệu hóa toàn bộ bọn gián điệp cài lại ở miền Nam theo con đường trao trả tù binh. Lực lượng CAND đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến, bờ biển, biên giới, hải đảo, góp phần đánh thắng các kế hoạch xâm nhập, gián điệp, biệt kích của Mỹ Ngụy.

* Miền Nam:  Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, lực lượng An ninh miền Nam đã phát động sâu rộng phong trào “Bảo mật phòng gian”; phối hợp với các lực lượng vũ trang trên khắp các chiến trường, đồng loạt mở nhiều chiến dịch, bẻ gãy các cuộc tấn công, lấn chiếm, đưa kẻ địch vào tình thế bị động, bất ngờ, hoang mang, rối loạn và tan rã; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não, chỉ huy chiến dịch, bảo vệ các cuộc hành quân, vận chuyển vũ khí, phương tiện, lương thực ra chiến trường; bảo vệ bí mật các kế hoạch và các mũi tấn công chiến lược. Lực lượng điệp báo, tình báo CAND đã chui sâu, leo cao, tiến sâu vào hang ổ của địch, thu thập, cung cấp nhiều tin tức tình báo có giá trị chiến lược, chiến thuật, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lần lượt đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

- Công tác xây dựng lực lượng CAND trong thời kỳ này luôn được Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng, củng cố, phát triển.

Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng có nhiều Nghị quyết quan trọng chỉ đạo xây dựng lực lượng Công an nhân dân trở thành công cụ chuyên chính sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, có liên hệ mật thiết với quần chúng, là lực lượng chiến đấu vững mạnh, có tính chất vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, thông thạo về nghiệp vụ, có trình độ khoa học - kỹ thuật và đặt lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. 

Ở miền Nam, năm 1961 - 1962, Thường vụ Trung ương Cục quyết định thành lập Ban bảo vệ An ninh Trung ương Cục; Ban bảo vệ An ninh Khu và các trung tâm huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ, với biên chế hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ An ninh. Năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định thành lập Nha An ninh, thuộc Bộ Nội vụ, gồm 5 đơn vị cấp Cục và hệ thống tổ chức an ninh cơ sở rộng khắp trong toàn miền. Ngày 20/7/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 34/LCT công bố Pháp lệnh Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Pháp lệnh Quy định chế độ cấp bậc sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân.

Chính phủ thường xuyên quan tâm chỉ đạo kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy của Bộ Công an từ trung ương đến địa phương, với tổng biên chế hàng chục ngàn cán bộ, chiến sĩ Công an chính quy, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ tương đối hiện đại và hàng chục vạn cán bộ Công an xã, bảo vệ dân phố, bảo vệ cơ quan, xí nghiệp.

Những thành tích, chiến công của lực lượng CAND trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã ghi tiếp vào truyền thống vẻ vang của lực lượng CAND những trang sử vàng oanh liệt; hàng trăm tập thể, cá nhân cán bộ, chiến sĩ Công an được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ’. Tiêu biểu như các đồng chí: Hồ Bá Thọ (Công an Quảng Bình), Nguyễn Văn Đẹp (Công an Long An), Nguyễn Thị Lý (Công an Quảng Trị), Phạm Thành Lượng (Trung đoàn 180, An ninh vũ trang miền Nam)…

5. Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (từ năm 1975 đến nay).

Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước ta được hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta lúc này là phải nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng CAND đã tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, tổ chức quản lý, cải tạo số ngụy quân, ngụy quyền, nhân viên của chế độc cũ, truy quét tàn quân địch, đấu tranh làm tan rã các tổ chức FULRO, bắt hàng ngàn tên, bóc gỡ hàng trăm khung chính quyền ngầm của địch, thu 2.712 súng các loại; chủ động đấu tranh bóc gỡ toàn bộ mạng lưới gián điệp, tình báo của đế quốc Mỹ và tay sai cài lại theo kế hoạch hậu chiến; bắt gọn hàng ngàn toán gián điệp, biệt kích của các thế lực thù địch từ bên ngoài xâm nhập vào Việt Nam; đập tan âm mưu và hoạt động của bọn phản động lưu vong xâm nhập, móc nối với bọn phản động trong nước âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền.

Trong 2 năm (1976 – 1977), lực lượng CAND đã đấu tranh, khám phá tổ chức phản động “Mặt trận Quốc gia giải phóng Việt Nam”, bắt 1.395 tên, trong đó có nhiều thủ lĩnh tự phong, gồm “Quốc trưởng”, “Thủ tướng”, 57 tên chỉ huy cấp khu, sư đoàn, 519 tên chỉ huy cấp trung đoàn, tiểu đoàn, thu giữ 147 tấn vũ khí, 16 bộ điện đài, 2 tàu xâm nhập và khám phá 7 tổ chức phản động trong nước. Trong 4 năm (1981 - 1984), lực lượng Công an đã đấu tranh với tổ chức phản động do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu, bắt 146 tên, thu 143 tấn vũ khí, thu 300 triệu đồng tiền Việt Nam in giả, 16 điện đài, 2 tàu xâm nhập. Từ năm 1997 đến năm 2000, lực lượng Công an đập tan âm mưu khủng bố của tổ chức phản động lưu vong tại Mỹ, do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu, bắt và truy tố 37 tên phản động, thu 10.141 tờ truyền đơn, 47 lá cờ “ba sọc” và nhiều vũ khí, phương tiện hoạt động của chúng.

Trong sự nghiệp đổi mới, lực lượng CAND đã tham mưu giúp Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng về công tác Công an trong tình hình mới. Tổ chức thực hiện có hiệu quả “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia”, “Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm”, “Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm ma túy”. Xây dựng thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh. Tham mưu đề xuất và trực tiếp giải quyết nhiều vụ, việc phức tạp liên quan đến vấn về tôn giáo, dân tộc, an ninh kinh tế, an ninh nông thôn, an ninh văn hóa - tư tưởng. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng nghiệp vụ, bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội trọng đại của đất nước. Chủ động phòng ngừa và liên tục mở nhiều đợt tấn công, truy quét tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức.

Năm 1996, lực lượng Công an triệt phá băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, do Dương Văn Khánh cầm đầu, truy tố 48 bị can. Hai năm 2001 - 2002, lực lượng Công an triệt phá tổ chức tội phạm đặc biệt nguy hiểm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, do Trương Văn Cam cầm đầu, bắt giữ, xử lý hàng trăm tên tội phạm nguy hiểm. Điều tra, khám phá nhiều vụ án về ma túy lớn, điển hình như đường dây buôn lậu ma túy do Xiêng Phiêng - Vũ Xuân Trường cầm đầu; đường dây buôn lậu ma túy do Nguyễn Văn Hải cầm đầu. Ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, từng bước thiết lập lại trật tự an toàn giao thông; làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn, điển hình như: vụ tham nhũng tại Trạm kiểm soát Đồng Bành, Lạng Sơn; vụ tham ô tài sản tại công ty TAMEXCO; vụ Epco - Minh Phụng; vụ lừa đảo, cố ý làm trái đặc biệt nghiêm trọng, do Lã Thị Kim Oanh cầm đầu… góp phần tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế.

Công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong thời kỳ này luôn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm xây dựng, củng cố phát triển.

Tại phiên họp thứ Nhất, (3/6 đến 6/6/1975), Quốc hội khóa V đã Quyết nghị hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ, lấy tên là Bộ Nội vụ. Ngày 12/6/1981 Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 250/CP, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nội vụ.

Ngày 14/11/1987, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký Lệnh số 01/LCT-HĐNN công bố Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân và quy định chế độ cấp bậc sĩ quan, hạ sĩ quan An ninh nhân dân.

Ngày 31/1/1989, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 11/NĐ-HĐBT Quy định tổ chức, bộ máy Bộ Nội vụ.

Ngày 14/11/2003, Chính phủ ra Nghị định số 136/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Bộ Công an.

Ngày 12/12/2005 Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh số 30/2005/L-CTN công bố Luật Công an nhân dân.

Ngày 15/9/2009, Chính phủ ra Nghị định số 77/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Từ đây, bộ máy của Bộ Công an được kiện toàn với tổng quân số hàng trăm ngàn cán bộ, chiến sĩ Công an chính quy, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại và hàng chục vạn cán bộ Công an xã, phường, thị trấn, bảo vệ dân phố, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp.

Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, lực lượng CAND đã có bước phát triển mạnh mẽ, không ngừng lớn mạnh về mọi mặt và đạt được những thành tựu quan trọng. Lực lượng CAND đã chủ động phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp an ninh, quốc phòng với kinh tế, đối ngoại; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; chủ động tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế (đến nay Bộ Công an đã có quan hệ với 105 bộ, cơ quan ngang bộ của 55 quốc gia và vũng lãnh thổ; thiết lập quan hệ nhiều mặt với cơ quan thực thi pháp luật của các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tham gia hoạt động trong 22 tổ chức, diễn đàn hợp tác quốc tế đa phương; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện với cơ quan an ninh, tình báo, cảnh sát các nước và tổ chức quốc tế). Lực lượng CAND đã chủ động đổi mới và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, đối sách thích hợp để bảo vệ an ninh quốc gia, vận dụng linh hoạt các biện pháp nghiệp vục; giữ vững ổn định chính trị, không để bị động, bất ngờ, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nội địa; không để xảy ra khủng bố, phá hoại; xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự, không để lan rộng, kéo dài; tránh sơ hở để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, kích động chống phá gây phương hại đến an ninh quốc gia. Chú trọng vận dụng sáng tạo các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, đổi mới phương thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, tập trung đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm mới, tội phạm tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại; tội phạm ma túy, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao và tệ nạn xã hội; kiềm chế gia tăng tội phạm, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, duy trì các hoạt động bình thường của xã hội và bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

6. Những truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ CAND đã xây đắp nên những truyền thống vẻ vang, đó là:

Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam; chiến đấu anh dũng không ngại hi sinh vì nền độc lập, tự do, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vì an ninh Tổ quốc. CAND từ nhân dân mà ra, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, vì nhân dân phục vụ, dụa vào dân để làm việc và chiến đấu thắng lợi. CAND không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, có lối sống trong sạch lành mạnh, trung thực khách quan. Phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tận tụy với công việc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nội bộ đoàn kết, thống nhất, dân chủ, kỷ luật nghiêm minh, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành, các lực lượng. Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, bí mật, mưu trí, dũng cảm, cương quyết, khôn khéo, tích cực phòng ngừa, chủ động tiến công kẻ địch và bọn tội phạm. Không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ và năng lực công tác; tiếp thu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ phục vụ công tác, chiến đấu. Nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, có nghĩa, có tình./.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây